Akichan

:* You were born in a beautiful autumn there in Japan…


Leave a comment

Shrewish

http://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/shrewish

shrew

noun

ʃruː

; ʃruː

1a small animal like a mouse with a long nose

2 (old-fashioned) a bad-tempered unpleasant woman

 

Shrew-mouse:                       Chuột chù

albinic mouse chuột bạch
field-mouse chuột đồng
flitter-mouse = flittermouse con dơi
Greater Mouse Deer Cheo cheo Napu
house-mouse chuột nhắt
java mouse-deer cheo

 

shrewish

adjective

ˈʃruːɪʃ (BE)

; ˈʃruːɪʃ (NAmE)

(old-fashioned), (of women)

bad-tempered and always arguing

his shrewish wife

 

fogey

noun (alsofogy)

ˈfəʊɡi

; ˈfoʊɡi

pluralfogeys, fogies – cổ hủ, lạc hậu

a person with old-fashioned ideas that he or she is unwilling to change

He sounds like such an old fogey! She was showing old fogey potential at a frighteningly young age.

Advertisements


Leave a comment

Vaccine Calendar

Lịch tiêm chủng vắc xin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lứa tuổi Loại Vaccin phòng bệnh Lịch tiêm
Sơ sinh Lao (BCG) Mũi 1: nhắc lại sau 4 năm
Viêm gan siêu vi B Mũi 1
1 tháng tuổi Viêm gan B Mũi 2
2 tháng tuổi (6-90 ngày) Viêm gan B Mũi 3: một năm sau nhắc lại mũi 4
Bạch hầuHo gàUốn ván Mũi 1
Bại liệt Uống
Viêm màng não mủ, viêm phổi … do Hib Mũi 1
3 tháng tuổi (90-120 ngày) Bạch hầu-Ho gà-Uốn ván Mũi 2
Bại liệt Uống
Viêm màng não mủ, viêm phổi … do Hib Mũi 2
4 tháng tuổi (120 ngày) Bạch hầu-Ho gà-Uốn ván Mũi 3: nhắc lại sau 1 năm
Bại liệt Uống
Viêm màng não mủ, viêm phổi … do Hib Mũi 3: nhắc lại sau 1 năm
9 tháng Sởi Mũi 1
12 tháng tuổi Viêm não Nhật Bản B Tiêm 2 mũi: mỗi mũi cách nhau 1 tuần,
1 năm sau tiêm nhắc lại mũi 3 và cứ
3 năm tiêm nhắc lại 1 lần cho đến 15 tuổi
Thủy đậu Tiêm một mũi duy nhất (Nếu trẻ trên
12 tuổi tiêm 2 mũi, mỗi mũi cách nhau 6-8 tuần)
15 tháng tuổi Sởi, Quai bị, Rubella Tiêm một mũi
18 tháng tuổi Viêm màng não do Não mô cầu typ A + C Tiêm 1 mũi; 3 năm sau nhắc 1 lần
24 tháng tuổi Phế cầu Tiêm 1 mũi và cứ 5 năm nhắc lại 1 lần

Chú ý: Ngoài những bệnh trong lịch tiêm chủng mở rộng, cũng có những bệnh khác trong chương trình mà không có trong lịch như phòng bệnh tiêu chảy do virus Rota,..


Leave a comment

Japanese encephalitis vaccine

encephalitis

noun (same for BrE & NAmE)

enˌsefəˈlaɪtəs
enˌkefəˈlaɪtəs

[uncountable] (medical)

 a condition in which the brain becomes swollen, caused by an infection or allergic reaction

vaccine

noun

ˈvæksiːn    BrE

; vækˈsiːn    NAmE

[countable, uncountable]

a substance that is put into the blood and that protects the body from a disease

– a measles vaccine

– There is no vaccine against HIV infection.

Lịch làm việc của Trung tâm dịch vụ

  • 70 Nguyễn Chí Thanh – Đống Đa – Hà Nội
  • Hanoi, Vietnam 10000
  • Tel: 84 4 4 37730268
  • 0439035688. Người dân cũng có thể gọi theo số điện thoại nóng 0913513616 (cho ông Cảm), 0915421888 (ông Hùng, trưởng phòng truyền nhiễm, văcxin). Trung tâm cũng đã tăng cường thêm 3 bác sĩ tại mỗi phòng tiêm để làm nhiệm vụ trực điện thoại, tư vấn cho khách hàng.

Trung tâm dịch vụ khoa học kỹ thuật và y tế dự phòng làm việc tất cả các ngày trong tuần, kể cả thứ 7, chủ nhật và ngày lễ.

Thời gian làm việc:
– Buổi sáng: 8h – 11h30
– Buổi chiều: 13h30 – 17h
Lứu ý sau khi tiêm chủng cần phải theo dõi 30 phút sau tiêm. Vậy kính mong quý khách hàng đến trung tâm trước giờ nghỉ 30 phút.
Hỏi đáp về bệnh Viêm não Nhật Bản
 

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

VỀ BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG

PHẦN 1

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

VỀ BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN

 

Bệnh viêm não Nhật Bản là gì?

Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính làm tổn thương hệ thần kinh trung ương, thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi.
Bệnh gây nên do vi rut VNNB, lây truyền qua muỗi đốt.

Tại sao lại gọi là bệnh viêm não Nhật Bản?

Bệnh được phát hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản với biểu hiện viêm não – màng não tuỷ, nhiều người mắc, tử vong rất cao.

Năm 1935 các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm ra căn nguyên bệnh là một loài vi rút từ đó đặt tên là vi rút VNNB.

Năm 1938 cũng các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm ra vai trò truyền bệnh của loài muỗi Culex tritaeniorhynchus (Cu-lếc tri-tê-nio-rin-cút),
và sau đó vào tìm ra vai trò vật chủ và ổ chứa chính của vi rút VNNB là loài lợn và chim.

Bệnh VNNB có ở Việt Nam từ bao giờ và lưu hành như thế nào?

Ở Việt Nam, bệnh VNNB được ghi nhận đầu tiên vào năm 1952.

Năm 1959 dịch Viêm não mùa hè được xác định là do vi rút VNNB bằng chẩn đoán huyết thanh học tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Hà Nội.

Năm 1964, lần đầu tiên vi rút VNNB được phân lập tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Hà Nội, có ký hiệu HN-60.

Bệnh VNNB lưu hành trong cả nước, nhiều nhất ở các tỉnh đồng bằng và trung du miền Bắc. Các ổ dịch phần lớn tập trung ở những vùng trồng
lúa nước hoặc vùng bán sơn địa.
Bệnh VNNB lưu hành tản phát theo mùa, thường từ tháng 4 đến tháng 10 là mùa mưa ở Miền Bắc, đỉnh cao vào các tháng 6, 7. Hàng năm
có khoảng từ 2000 đến 3000 người mắc bệnh. Từ năm 1997 sau khi có vắc xin VNNB của chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) số
mắc và chết do bệnh VNNB có chiều hướng giảm đi.
Ngoài Nhật Bản và Việt Nam, còn những nước nào thường có VNNB?
Các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Philippin, vùng viễn đông Liên bang Nga hàng năm đều có bệnh
VNNB với số người mắc khá cao.
Hầu hết các nước này có nhiệt độ cao vào mùa hè và mưa nhiều thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Chim di trú và tập quán chăn nuôi lợn theo
hộ gia đình còn phổ biến đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu hành virut VNNB trong tự nhiên, từ đó dẫn đến tình trạng lưu hành bệnh
VNNB ở ngườ
i.

Vi rút VNNB có cấu tạo như thế nào?

Vi rút VNNB nằm trong nhóm các vi rút gây bệnh do côn trùng truyền, còn gọi là các vi rút Arbo (ác-bo).

Vi rút có dạng hình cầu, đường kính trung bình 40-50 na-nô-mét, lõi được cấu tạo bởi a-xít nhân (ARN) sợi đơn, là vật liệu di truyền của virut.

Hạt vi rút có vỏ bọc bên ngoài với bản chất là glyco-protein. Đó là kháng nguyên bề mặt có tính kết dính hồng cầu nên gọi là kháng nguyên
ngưng kết hồng cầu
, kháng nguyên này có hoạt tính kích thích sinh khánh thể trung hòa hạt vi rút.

                              

Cấu tạo của vi rút viêm não Nhật Bản

                          ARN:Lõi di truyền của hạt vi rút             E:Kháng nguyên ngưng kết hồng cầu

Virut VNNB có đặc điểm gì ?

Vi rút có hướng tính cao với tế bào thần kinh, gây bệnh cho người. Vi rút có khả năng tồn tại lâu dài trong cơ thể của các động vật có xương
sống, chủ yếu là lợn và chim hoang dã.
Virut bị diệt ở nhiệt độ cao (sau 30 phút ở nhiệt độ 56oC, sau 2 phút ở 100oC), và khi tiếp xúc với hầu hết các hoá chất khử trùng ở nồng
độ thông thường, hoặc ánh sáng mặt trời.

Quá trình gây bệnh của vi rút VNNB trong cơ thể người như thế nào?

Vi rút VNNB được truyền từ hạch nước bọt muỗi qua da do muỗi đốt người.

Sau khi qua da, hạt vi rút nhân lên tại tổ chức dưới da và tại các mạch lympho vùng, di chuyển tiếp đến các hạch lympho, tuyến ức và cuối cùng
vào máu, gây nhiễm virut huyết của tổ chức ngoài thần kinh.
Virut đến hệ thần kinh trung ương gây sung huyết, phù nề và xuất huyết vi thể ở não. Gây các tổn thương vi thể như
huỷ hoại tế bào thần kinh, thoái hoá tổ chức não, viêm tắc mạch; chủ yếu xảy ra ở chất xám, não giữa và thân não dẫn đến hội chứng não cấp
.

Trong quá trình nhân lên và gây bệnh, vi rút VNNB cũng kích thích cơ thể vật chủ sinh kháng thể trong máu và dịch não tuỷ.

Có mấy loại kháng thể và vai trò của mỗi loại như thế nào?

Kháng thể kháng vi rút VNNB do cơ thể người sinh ra, sau khi nhiễm vi rút tự nhiên (mắc bệnh), hoặc sau khi sử dụng vác xin VNNB. Kháng
thể có bản chất là một glô-bu-lin (Ig) miễn dịch.

Có 2 lớp glô-bu-lin miễn dịch quan trọng trong bệnh VNNB là :

·         Kháng thể IgM xuất hiện sớm, ngay sau khi nhiễm virut và tồn tại khoảng 60 ngày, được phát hiện bằng phản ứng MAC-ELISA
và có giá trị trong chẩn đoán xác định bệnh VNNB.
·         Kháng thể IgG xuất hiện muộn hơn nhưng tồn tại trong một thời gian dài, có thể suốt đời, có vai trò chính trong việc
bảo vệ cơ thể. Các phân tử IgG có thể truyền qua nhau thai. Khi bị nhiễm virut lần 2 các phân tử IgG được tổng hợp
tiếp nên hiệu giá kháng thể tăng nhanh và rất cao

Ổ chứa của vi rút VNNB có ở đâu?

Ổ chứa vi rút VNNB trong thiên nhiên chính là các loài động vật có xương sống, là nơi vi rút VNNB nhân lên, lưu giữ lâu dài và từ đó phát tán
rộng.

Ổ chứa vi rút tiên phát là một số loài động vật sống hoang dã như các loại chim, sau đó là một số loài bò sát.

Ổ chứa vi rút thứ cấp là một số loài súc vật nuôi gần người, quan trọng nhất là lợn, sau đó là trâu, bò, dê, cừu, chó, khỉ. Bò và ngựa có thể
mang vi rút nhưng ít khi làm lây nhiễm cho con người.

Cơ thể người nhiễm vi rút VNNB cũng là một loại ổ chứa, nhưng chỉ là tạm thời do thời gian lưu giữ vi rút rất ngắn.

Nguồn truyền nhiễm của bệnh VNNB là loài nào?

Động vật nhiễm vi rút có vai trò là nguồn truyền nhiễm bệnh VNNB cho người.

Nguổn tuyền nhiễm trong thiên nhiên là loài chim, trong đó có một số loài ăn quả vải quả nhãn như tu hú, liếu điếu.

Nguồn truyền nhiễm gần người là một số loài gia súc, trong đó quan trọng nhất là lợn nhà.

Người bệnh có thể truyền vi rút qua muỗi đốt, tuy nhiên trên thực tế người không có vai trò là nguồn truyền nhiễm bệnh VNNB.

Tại sao loài lợn được coi là nguồn truyền nhiễm quan trọng ?

Trong số các loài động vật sống gần người, lợn được coi là nguồn truyền nhiễm quan trọng nhất, vì:

·         Chỉ số lợn bị nhiễm virút VNNB rất cao (khoảng 80% đàn lợn nuôi), và số lượng lợn nuôi tại hộ gia đình rất lớn (hầu hết gia đình ở nông thôn
có nuôi lợn).
·         Sự xuất hiện vi rút VNNB trong máu lợn xảy ra ngay sau khi lợn bị nhiễm virút. Thời gian nhiễm virút huyết ở lợn kéo dài từ 2 đến 4 ngày với
số lượng virút VNNB trong máu đủ để gây nhiễm cho muỗi Culex tritaeniorhynchus.

·         Muỗi Cx. tritaeniorhynchus, véc tơ chính truyền bệnh VNNB cho người, rất ưa thích hút máu lợn.

Bệnh VNNB được lây truyền theo đường nào?

Bệnh VNNB lây theo đường máu, do côn trùng (muỗi) đốt hút máu động vật nhiễm vi rút rồi  đốt người, qua đó truyền vi rút cho người. Muỗi
truyền bệnh VNNB được gọi là véc tơ truyền bệnh.

Vi rút được truyền qua vết đốt của muỗi cái, từ tuyến nước bọt có chứa vi rút.

Bệnh VNNB không thể lây trực tiếp từ người sang người. Ăn uống chung, dùng chung đồ dùng, tiếp xúc gần gũi với người bệnh không làm lây
bệnh.

Có mấy chu trình lan truyền vi rút VNNB?

     Có 2 chu trình lan truyền vi rút VNNB chính trong thiên nhiên :

·         Chu trình chim – muỗi – chim: vi rút VNNB được truyền từ con chim nhiễm vi rút sang con chim lành qua các loài muỗi ưa thích hút máu
chim.
·         Chu trình lợn – muỗi – lợn : trong đó vi rút VNNB được truyền từ con lợn nhiễm vi rút sang con lợn lành qua các loài muỗi ưa thích hút máu
lợn.
Giữa 2 chu trình lan truyền trong thiên nhiên có 1 chu trình lan truyền phụ, còn gọi là ngõ cụt sinh học, trong đó muỗi nhiễm vi rút VNNB (từ
chim và lợn) đốt, hút máu người và truyền vi rút cho người lành (xem sơ đồ dưới).
                              

Sơ đồ truyền bệnh Viêm não Nhật Bản

Tại sao muỗi có khả năng truyền bệnh VNNB ?
Muỗi ưa đốt và hút máu động vật máu nóng. Chỉ có muỗi cái mới đốt hút máu do đó chỉ có muỗi cái mới có khả năng nhiễm vi rút và truyền bệnh
VNNB.
Một loài muỗi có thể ưa thích đốt hút máu một loài động vật nhất định, nhưng có thể đốt hút máu nhiều loài động vật khác, trong đó có con
người.
Vi rút VNNB có khả năng sinh sản nhân lên trong cơ thể muỗi, tuy nhiên chúng không gây bệnh cho loài muỗi, do đó có thể tồn tại nhiều ngày,
kéo dài thời gian truyền bệnh.

Muỗi có thể truyền vi rút VNNB qua trứng, vì vậy bản thân muỗi cũng được coi là một loại vật chủ của vi rút VNNB trong thiên nhiên.

Loài muỗi nào là vector chính truyền vi rút VNNB ở Việt Nam?

Véc tơ chính truyền bệnh VNNB ở Việt Nam là loài muỗi Culex tritaeniorhynchus. Ngoài ra một số loài Culex khác
cũng có thể có vai trò truyền bệnh như Culex vishnui, Culex gelidus. Vai trò truyền bệnh của một số loài muỗi khác
như Aedes albopictus, Anophele minimus...chưa được chứng minh thực tế.

Những đặc điểm sinh lý-sinh thái chính của muỗi Cx. tritaeniorhynchus là gì?

Muỗi thường sinh sống ở vùng lúa nước (nên còn gọi là muỗi đồng ruộng), đặc biệt là các khu ruộng mạ, các chân
ruộng cạnh khu dân cư, khu vườn chim, vùng bán sơn địa.
Ổ ấu trùng (bọ gậy/loăng quăng) của muỗi là ruộng nước, ao hồ đầm nông, các rãnh cấp thoát nước quanh khu dân cư
có nước tù đọng hoặc chảy chậm.
Muỗi trưởng thành có thể sống bằng các chất hữu cơ, nhựa cây cỏ tự nhiên, tuy nhiên muỗi cái có thể đốt hút máu động
vật máu nóng, đặc biệt ưa thích đốt các loài chim và gia súc. Một muỗi cái có thể đốt hút máu nhiều lần, ở nhiều động
vật (nếu chưa no trong một bữa máu) trong một ngày.
Thông thường chiều tối đến đêm (6 giờ chiều đến 9 giờ tối), hoặc buổi sáng sớm muỗi từ cánh đồng bay vào các
chuồng trại để hút máu súc vật. Nếu gặp người chúng có thể đốt hút máu và truyền bệnh.
Muỗi có thể bay xa tới 1,5 km và được phát hiện trên cây cao cách mặt đất 13-15m. Muỗi Culex triteaniorhychus
có thể sinh sản rất nhanh trong mùa mưa ở điều kiện nhiệt độ thường xuyên cao trên 25 độ C và độ ẩm trên 80%.

                          

Muỗi có thể truyền vi rút VNNB trong bao lâu?

Sau khi hút máu động vật có nhiễm vi rút, muỗi tìm nơi trú ẩn tiêu máu. Vi rút nhân lên trong cơ thể muỗi trong vài ngày
(tối đa 14 ngày) thì đủ khả năng truyền bệnh, nếu muỗi đốt hút máu người.
Muỗi cái bị nhiễm virut Viêm não Nhật Bản có khả năng truyền bệnh suốt đời, và có thể truyền virut sang thế hệ sau qua
trứng.
Virut thường phát triển nhanh trong cơ thể muỗi ở 270C–300C. Nếu dưới 200C thì sự phát triển của virut dừng lại. Đó
cũng là lý do tại sao bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 9 và đỉnh cao là vào tháng 6, tháng 7.

Ai và lứa tuổi nào thường bị bệnh VNNB?

Tất cả mọi người, mọi lứa tuổi nếu chưa có miễn dịch với vi rút VNNB đều có thể bị mắc bệnh. Ở những vùng bệnh
VNNB lưu hành nặng, bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi (chiếm tỷ lệ trên 90% số ca mắc) trong đó đa số là
trẻ từ 1-5 tuổi. Do có vác xin VNNB trong những năm vừa qua, tuổi nhóm trẻ mắc bệnh chủ yếu đã nâng lên. Hiện
tại ở Việt Nam tỷ lệ mắc VNNB cao nhất ở nhóm trẻ em từ 5 – 9 tuổi, hoặc lớn hơn. Người lớn có nguy cơ nhiễm do
chưa từng được tiêm chủng và nhiễm vi rút, khi đi du lịch, lao động, công tác vào vùng lưu hành bệnh VNNB.

Có mấy mức độ bệnh VNNB được ghi nhận?

Có 2 mức độ :

·         Bệnh VNNB lâm sàng : bệnh nhân viêm não cấp, có triệu chứng lâm sàng của bệnh VNNB.

·         Bệnh nhân VNNB xác định phòng thí nghiệm : bệnh nhân có viêm não cấp, có xét nghiệm MAC-ELISA dương
tính với VNNB.

Các thể bệnh VNNB lâm sàng thường gặp?

Bệnh VNNB thể hiện triệu chứng rất đa dạng như:

·         Thể VNNB với viêm não- màng não tuỷ cấp tính, điển hình.

·         Thể viêm màng não nước trong, thường có sốt và đau đầu.

·         Thể nhẹ, thoảng qua với sốt nhẹ, mệt mỏi, có thể đau đầu.

·         Nhiễm virut VNNB không có biểu hiện triệu chứng, thường ở những người đã có miễn dịch. Tại vùng lưu hành
bệnh VNNB cứ 1 trường hợp bệnh điển hình có tới 20 đến 100 người mang vi rút VNNB không triệu chứng.

Biểu hiện của thể bệnh VNNB điển hình như thế nào?

Sau thời gian ủ bệnh từ 5 đến 15 ngày, bệnh sẽ xuất hiện theo 3 giai đoạn:

·         Giai đoạn khởi phát: khoảng từ 1 đến 6 ngày. Bệnh nhân có sốt đột ngột, thường kèm theo ớn
lạnh, mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn và nôn
.
·         Giai đoạn toàn phát: Tiếp tục sốt cao 38°C- 40°C, kéo dài; có biểu hiện của viêm màng não (đau đầu, cứng
gáy, nôn và buồn nôn, táo bón); biểu hiện rối loạn ý thức (kích thích vật vã hoặc li bì, u ám, có thể đi vào hôn mê);
      biểu hiện tổn thương thần kinh trung ương khu trú (co giật, run giật tự nhiên ở ngón tay, lưỡi, mi mắt hoặc toàn
      thân, liệt cứng); kèm theo rối loạn thần kinh thực vật. Tỷ lệ tử vong từ 0,3% – 60% tuỳ theo việc phát hiện bệnh
      sớm hay muộn, trình độ kỹ thuật hồi sức cấp cứu chống phù não, suy hô hấp, trụy tim mạch và chống bội nhiễm vi
       khuẩn.
·         Giai đoạn hồi phục: Nếu qua khỏi, bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn. Một số trường hợp nặng có thể để lại
di chứng liệt cứng ở chi trên hoặc chi dưới, liệt mặt và/hoặc di chứng rối loạn tinh thần, mất ổn định về tình cảm,
      thay đổi cá tính, chậm phát triển trí tuệ.
Dựa vào đâu để chẩn đoán được bệnh viêm não Nhật Bản?

Chẩn đoán một trường hợp bệnh VNNB cần dựa vào 3 yếu tố:

·         Đặc điểm lâm sàng : với các thể bệnh và biểu hiện lâm sàng như mô tả ở trên.

·         Đặc điểm xét nghiệm : dịch não tuỷ (DNT) tăng áp lực và nước trong; bạch cầu máu không tăng; xét nghiệm
Mac-ELISA từ máu hoặc DNT dương tính với VNNB.

·         Đặc điểm dịch tễ: sống ở vùng lưu hành VNNB, nhất là vào mùa bệnh.

Có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và di chứng do VNNB không? bằng cách nào?

Có thể được, bằng những biện pháp sau:

·         Gia đình và nhân viên y tế thôn/xã phát hiện sớm các dấu hiệu viêm não cấp của trẻ, xử lý chống sốt và theo dõi chặt
chẽ tiến triển bệnh.

·         Nếu các dấu hiệu viêm não-màng não cấp tiến triển rõ hơn, cần gửi trẻ đến cơ sở điều trị theo đúng tuyến.

·         Các cơ sở điều trị bệnh nhân tích cực, theo đúng phác đồ của Bộ Y tế.

·         Phát hiện sớm di chứng để điều trị hồi phục chức năng cho bệnh nhân.

Cần lấy mẫu để xét nghiệm vi rút vào lúc nào?

Để có kết quả chính xác giúp chẩn đoán ca bệnh VNNB cần lấy mẫu xét nghiệm vào thời điểm thích hợp nhất:

·        Để gửi đi phân lập vi rút : mẫu DNT hoặc máu toàn phần cần lấy sớm, trong 4 ngày đầu của bệnh kể từ khi có sốt.

·        Để xét nghiệm MAC-ELISA: mẫu DNT và máu lấy từ ngày thứ 3-4 của bệnh. Trường hợp lấy mẫu lần 2 để xác
định mức độ tăng hiệu giá kháng thể cần  lấy sau lần 1 ít nh
ất  7 – 10 ngày, hoặc trước khi bệnh nhân ra viện.

 Có phải MAC-ELISA được coi là kỹ thuật xét nghiệm chẩn đoán xác định VNNB hiệu quả nhất hiện nay?

Đúng, vì kỹ thuật xét nghiệm MAC-ELISA :

·         Có khả năng cho kết quả sớm (từ mẫu máu hoặc DNT lấy ngày thứ 3-4 của bệnh)

·         Chỉ cần một mẫu xét nghiệm đơn, không cần lấy mẫu lần thứ 2

·                  Có thể loại trừ phản ứng chéo giữa VNNB và vi rút Dengue (trong cùng nhóm vi rút Flavi)

·         Kỹ thuật dễ thực hiện, không quá tốn kém; trang bị xét nghiệm hiện có ở hầu hết tuyến tỉnh; bộ sinh phẩm do các
Viện VSDTTƯ và Pasteur Hồ Chí Minh sản xuất và cung cấp.

                                                            

                                                                                 PHẦN 2

 PHÒNG CHỐNG 

                                                            BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN 

Bệnh Viêm não Nhật bản có phòng ngừa được không? Bằng cách nào?

Bệnh VNNB cho tới nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa được.

Tiêm vác xin VNNB là biện pháp dự phòng chủ động hiệu quả và khả thi nhất

Ngoài ra phối hợp các biện pháp phòng chống khác như: kiểm soát muỗi Culex  truyền bệnh; kiểm soát động vật mang
vi rút gây bệnh; thực hiện vệ sinh môi trường thường xuyên, quy hoạch và cải tạo khu vực dân cư, khu chuồng trại chăn
nuôi để giảm tác hại của véc tơ và vật chủ truyền bệnh.

Ai là người thực hiện các biện pháp phòng chống chủ động bệnh VNNB ?

Mọi người dân trong cộng đồng đều có trách nhiệm và có khả năng phòng chống bệnh VNNB, duy trì sức khoẻ và sự
toàn vẹn về thể lực và tinh thần cho thế hệ trẻ.
Các cộng tác viên (CTV) cộng đồng (nhân viên y tế thôn bản, cán bộ địa chính quyền và đoàn thể ở địa phương,
giáo viên mẫu giáo, mầm non và trường phổ thông cơ sở, người tình nguyện khác
), các học sinh phổ thông…
sẽ là lực lượng quan trọng duy trì hoạt động phòng chống bệnh VNNB thường xuyên ở cộng đồng.
Cán bộ y tế ở tuyến cơ sở (tuyến xã và huyện) là lực lượng chính trong việc phát hiện bệnh dịch và tổ chức công tác
phòng chống VNNB cho cộng đồng.
Cán bộ y tế dự phòng chuyên trách ở tuyến tỉnh, tuyến trung ương có nhiệm vụ theo dõi, đánh giá và duy trì hoạt động
dự phòng chủ động VNNB thường xuyên trên toàn tỉnh và khu vực.

Hoạt động của đội ngũ CTV cộng đồng như thế nào?

Đội ngũ CTV cộng đồng là tổ chức tình nguyện, do chính quyền địa phương đứng ra tổ chức, hoạt động theo sự
hướng dẫn chuyên môn của Trưởng trạm y tế xã/phường. Tiêu chuẩn lựa chọn: những người nhiệt tình với sức khoẻ
cộng đồng; có thời gian cho hoạt động; có trình độ học vấn nhất định; chịu sự phân công của chính quyền, đoàn thể.
CTV phòng chống bệnh VNNB thường được lồng ghép là CTV của các chương trình sức khoẻ khác như phòng
chống sốt xuất huyết, sốt rét…
Đội ngũ CTV phải được tập huấn những kiến thức cơ bản về bệnh VNNB và được hướng dẫn thực hành cách
phòng chống. Việc tập huấn cho CTV do Trung tâm YTDP tuyến huyện, với sự trợ giúp của y tế xã, thực hiện hàng
năm trong thời gian của Dự án và định kỳ hàng năm sau đó.

Tại sao tiêm vắc xin VNNB lại là biện pháp có hiệu quả nhất?

Tiêm vắc xin là biện pháp gây miễn dịch đặc hiệu và lâu bền cho mọi người.

Các chế phẩm vác xin VNNB hiện nay có hiệu quả bảo vệ trên 90%  số người được tiêm ngừa.

Việt Nam đã sản xuất được vác xin VNNB bất hoạt từ não chuột kể từ năm 1993, có hiệu lực bảo vệ rất cao (cho
98% số trẻ được tiêm đủ 3 mũi vác xin), tính an toàn cao và giá thành hạ. Vác xin VNNB được đưa vào chương
trình TCMR nước ta từ năm 1997, hiện đã tiêm ngừa cho khoảng 65% số trẻ dưới 5 tuổi trên cả nước.

Vác xin VNNB nên được tiêm phòng vào thời gian nào?

Đối với trẻ em dưới 5 tuổi : nên tiêm cho trẻ khi được 12-15 tháng tuổi, theo lịch tiêm đủ 3 mũi của chương trình
TCMR. Có thể tiêm nhắc sau 5 năm kể từ mũi tiêm thứ 3.
Đối với trẻ trên 5 tuổi nếu chưa từng được tiêm vác xin VNNB thì tiêm ngay càng sớm càng tốt, theo lịch tiêm đủ 3
mũi cơ bản. Mũi tiêm nhắc sau 5 năm.
Đối với người lớn : nếu chưa từng tiêm vác xin VNNB nên tiêm ngay, theo lịch tiêm 3 mũi cơ bản. Nếu đã từng tiêm
liều cơ bản thì chỉ cần tiêm nhắc 1 mũi.
Nên tổ chức tiêm trước mùa bệnh khoảng 1 tháng vì kháng thể bảo vệ bước đầu chỉ được tạo thành khoảng 3 tuần
sau khi tiêm vắc xin VNNB liều 2, và kháng thể bảo vệ cơ bản chỉ có sớm nhất 1 tuần sau vác xin mũi thứ 3.

Vắc xin VNNB nên dùng cho những đối tượng nào?

Vắc xin VNNB được khuyến khích dùng cho những người sống trong vùng có lưu hành bệnh VNNB, nhất là với trẻ em
từ 1 đến 15 tuổi. Trẻ em từ 1 đến 5 tuổi được tiêm theo chương trình TCMR.
Khách du lịch/người đi lao động, công tác/ người nhập cư đến từ vùng không có miễn dịch, có thời gian lưu trú hơn
1 tháng ở vùng nông thôn và hơn 12 tháng ở thành phố nơi có bệnh VNNB lưu hành.

Những trường hợp nào không được tiêm hoặc hoãn tiêm vắc xin VNNB?

Những người có cơ địa quá mẫn với thiomersal hoặc với các chế phẩm của não chuột, có dị ứng với vác xin VNNB
lần tiêm trước.

Những người đang sốt cao hoặc mắc bệnh nhiễm khuẩn đang tiến triển.

Những người đang mắc bệnh tim, gan, thận, đái tháo đưòng giai đoạn nặng, bệnh ung thư máu và các bệnh ác tính.

Không sử dụng cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi và phụ nữ có thai.

Người nhiễm HIV đã chuyển thành AIDS.

Lịch tiêm chủng vắc xin VNNB như thế nào?

         Liều gây  miễn dịch cơ bản: Tiêm đủ 3 mũi :

·         Mũi tiêm thứ 1 : ngày 0

·         Mũi tiêm thứ 2 : ngày thứ 7 đến 14

·         Mũi thứ 3 cách mũi thứ 2 là 12 tháng.

·         Liều lượng : với trẻ từ 12 đến 36 tháng tuổi tiêm 0,5 ml/mũi; với trẻ từ 3 tuổi trở lên tiêm liều 1 ml/mũi.

·         Đường tiêm : dưới da, mặt ngoài trên cánh tay.

         Liều tiêm nhắc lại : Nên nhắc lại bằng 1 mũi vắc xin VNNB (liều 1 ml, dưới da) khoảng 5 năm sau liều gây miễn dịch
cơ bản.

Tiêm vắc xin VNNB có thể gặp những tác dụng phụ nào?

Một tỷ lệ nhất định người tiêm vác xin VNNB có thể bị tác dụng phụ, cụ thể:

·         Tại chỗ tiêm: có thể bị đau, xưng, đỏ. Thường gặp ở 5-10% người được tiêm.

·         Một số rất ít có thể có phản ứng toàn thân như sốt nhẹ, đau đầu, mệt mỏi. Các phản ứng phụ nêu trên xuất hiện
khoảng vài giờ sau khi tiêm và thường tự hết sau 1-2 ngày. Phản ứng phụ thường gặp ở mũi tiêm thứ 2 hoặc thứ 3
hơn là ở mũi tiêm thứ 1.
·         Một tỷ lệ cực nhỏ (1 trường hợp trên 1 triệu mũi tiêm) có thể gặp choáng (sốc) sau khi tiêm trong vòng vài giờ, cần
được đưa ngay tới cơ sở y tế gần nhất để xử trí cấp cứu.
           Phản ứng phụ có thể được hạn chế nếu thực hiện các mũi tiêm đúng thời gian, liều lượng, đường tiêm và việc khám,
hỏi kỹ tình trạng của trẻ trước khi tiêm cũng như theo dõi tiếp, cho trẻ nghỉ ngơi sau khi tiêm trong vòng 30 phút.

Trước khi tiêm vắc xin VNNB cần thực hiện các quy định gì?

Thông báo cho gia đình hoặc người được tiêm về các lợi ích khi sử dụng và nguy cơ khi không sử dụng vác xin VNNB.

Kiểm tra việc chuẩn bị để đối phó với những phản ứng phụ nặng tức thời xẩy ra.

Đọc kỹ các thông tin về chế phẩm vác xin theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Kiểm tra lại hạn sử dụng, kiên quyết loại bỏ những lọ vác xin hết hạn.

Kiểm tra và đảm bảo vác xin không từng bị đông băng hoặc ở nhiệt độ cao.

Kiểm tra họ tên người được sử dụng vác xin, đối chiếu với phiếu tiêm chủng.

Kiểm tra và hỏi về tình trạng sức khoẻ của đối tượng để phát hiện các chống chỉ định hoặc hoãn tiêm

Phải làm gì sau khi tiêm vác xin cho trẻ?

Nói với đối tượng về những phản ứng thông thường và những phản ứng nặng cần  được theo dõi, phát hiện sau khi tiêm.

Nói với bà mẹ theo dõi tiếp trẻ trong vòng 30 phút để phát hiện kịp thời những phản ứng phụ có thể gặp.

Ghi phiếu tiêm chủng. Hẹn thời gian tiêm lần sau.

Giám sát bệnh VNNB là gì? Có mấy nội dung giám sát?

Giám sát bệnh VNNB là theo dõi một cách thường xuyên, có hệ thống về tình trạng bệnh VNNB tại một khu vực cùng
với những yếu tố làm phát sinh và lây truyền bệnh trong cộng đồng, từ đó đề xuất biện pháp phòng chống có hiệu quả.

Có 3 nội dung giám sát chính :

·         Giám sát bệnh nhân, giám sát huyết thanh học và tác nhân (vi rút) gây bệnh;

·         Giám sát véc tơ (muỗi Culex) truyền bệnh;

·         Giám sát vật chủ và nguồn truyền nhiễm bệnh VNNB.

Nội dung giám sát người bệnh bao gồm những gì?

Phát hiện và thống kê thường xuyên (theo tuần, tháng, năm) số mắc và số chết do VNNB theo đơn vị hành chính
(xã, huyện, tỉnh), phân cấp phát hiện và thống kê theo tuyến như sau :

·         Tuyến xã/phường : phát hiện và báo cáo được hội chứng não cấp, nghi mắc VNNB;

·         Tuyến huyện : phát hiện và báo cáo được ca bệnh VNNB lâm sàng;

·         Tuyến tỉnh : phát hiện và báo cáo ca bệnh VNNB lâm sàng và ca bệnh xác định phòng thí nghiệm (có kết
quả MAC-ELISA).
Trong một số trường hợp nhất định (giám sát trọng điểm, giám sát theo yêu cầu dự án, chương trình…) cần thống kê,
báo cáo thêm về đặc điểm dân số học (tuổi, giới tính, nghề nghiệp…),  tình hình tiêm chủng, miễn dịch và một số
đặc điểm khác của bệnh nhân VNNB.

Nội dung giám sát huyết thanh bệnh VNNB là gì?

Điều tra dịch tễ huyết thanh học ở người để phát hiện tình trạng miễn dịch quần thể trong cộng đồng, nhất là ở nhóm
tuổi dưới 15 tại vùng lưu hành bệnh VNNB, vùng đã tiêm vắc xin VNNB.

Điều tra dịch tễ huyết thanh học ở quần thể lợn để xác định mức độ nghiêm trọng của ổ chứa virut VNNB gần người.

Nội dung giám sát tác nhân bệnh VNNB là gì?

Phân lập virut VNNB trên muỗi (muỗi trưởng thành hoặc ấu trùng muỗi culex) bắt được tại nơi giám sát trong những
tháng mùa dịch.

Điều tra, phân lập virut từ chim hoang dã, súc vật nuôi gần người để phát hiện ổ chứa virut VNNB địa phương.

Phân lập virut VNNB trên bệnh nhân từ dịch não tủy, máu giai đoạn sớm bị nhiễm huyết hoặc từ não của tử thi mắc
VNNB lâm sàng.

Bệnh phẩm được bảo quản và vận chuyển như thế nào?

Mẫu huyết thanh: Bảo quản trong đá th­ường hoặc đá khô (có thể ở nhiệt độ môi tr­ường nếu thời gian vận chuyển
ngắn trong vòng 2 giờ).
Dịch não tuỷ: Bảo quản trong đá th­ường hoặc đá khô (trong một số tr­ường hợp nếu dùng mẫu để phân lập vi rut cần
bảo quản trong đá khô)
Các loại mẫu khác như muỗi trưởng thành, ấu trùng muỗi, mẩu phủ tạng tử thi…cũng cần được bảo quả lạnh như với
mẫu máu.
Các mẫu cần đóng gói theo đúng quy định đóng gói và vận chuyển bệnh phẩm tác nhân truyền nhiễm nguy hiểm tr­ước
khi gửi đi.
Những thông tin cần thiết gửi cùng mẫu bệnh phẩm: Họ tên người bệnh hoặc mã số bệnh phẩm; Ngày xuất hiện
triệu chứng của bệnh; Ngày lấy mẫu;
Dấu hiệu lâm sàng viêm não; Lịch sử tiêm phòng vắc xin VNNB.

Giám sát véc tơ là gì, bao gồm những nội dung gì?

Giám sát véc tơ là giám sát loài muỗi Culex tritaeniorhynchus, bao gồm cả muỗi trưởng thành và ấu trùng muỗi.

Giám sát muỗi trưởng thành :

         Bắt muỗi tại nhà ở và chuồng gia súc, vào thời điểm buổi tối.

         Định loại muỗi : xác định loài muỗi Culex tritaeniorhynchus.

         Xác định những chỉ số giám sát chính : Chỉ số nhà có muỗi (%); Chỉ số chuồng gia súc có muỗi (%); Chỉ số mật độ
muỗi theo nhà (con/nhà); Chỉ số mật độ muỗi theo chuồng gia súc (con/chuồng).

Giám sát ấu trùng muỗi (bọ gậy/loăng quăng):

         Bắt bọ gậy tại ruộng lúa, ao hồ, mương rãnh quanh khu dân cư.

         Định loài bọ gậy Culex tritaeniorhynchus, hoặc tiếp tục nuôi cho nở thành muỗi trưởng thành để định loại.

         Xác định những chỉ số giám sát chính : Chỉ số thuỷ vực có bọ gậy (%); Chỉ số mật độ bọ gậy (con/lít nước;
con/ m2 bề mặt nước; con/vợt)
–     Giám sát mức độ nhạy cảm của muỗi Culex tritaeniorhynchus đối với hoá chất diệt muỗi thường dùng : định
kỳ (ít nhất 1 lần/năm) thử nghiệm độ nhạy với hoá chất của loài muỗi Culex tritaeniorhynchus bắt được tại địa
phương, theo thường quy của TCYTTG.
        

Nội dung của giám sát vật chủ/ ổ chứa vi rút VNNB?

Đối tượng giám sát : loài lợn nhà có tại địa phương giám sát; có thể mở rộng giám sát loài chim ăn quả thường xuất
hiện theo mùa ở địa phương.

Thời gian giám sát : thường tiến hành trước mùa dịch bệnh VNNB.

Giám sát theo các chỉ số chính : Số lượng con lợn/xã, huyện; Chỉ số hộ gia đình có nuôi lợn/tổng hộ gia đình (%);
Chỉ số mật độ (con lợn/hộ gia đình); Chỉ số huyết thanh lợn (tỷ lệ % con lợn có kháng thể VNNB/tổng số con lợn
điều tra); Chỉ số huyết thanh loài chim (tỷ lệ % con chim có kháng thể/tổng số con chim bắt được).

                                           

Những nội dung chính phòng chống vectơ truyền bệnh VNNB là gì?

Có 3 nhóm biện pháp chính :

·         Biện pháp chống muỗi đốt cho người và gia súc

·         Biện pháp diệt muỗi trưởng thành và ấu trùng muỗi : bằng các tác nhân sinh học, hoá chất, cơ học.

·         Biện pháp hạn chế sự pháp triển của quần thể muỗi và tác hại của muỗi và của vật chủ, ổ chứa vi rút : cải tạo môi
trường khu dân cư, vệ sinh môi trường, nguồn nước, di rời khu chăn nuôi xa nhà ở…

Có thể chống muỗi đốt bằng những biện pháp nào?

         Nằm màn thường xuyên, có thể sử dụng màn tẩm hoá chất permethrin có hiệu lực xua diệt muỗi trong vòng 3 tháng.

         Sử dụng tấm rèm che chống muỗi ở cửa ra vào, cửa sổ nhà ở và chuồng gia súc. Có thể tẩm rèm, mành che bằng
permethrin, có tác dụng bảo vệ trong vòng vòng 3 tháng.
         Sử dụng bình xịt hoá chất cá nhân, hương muỗi cho các không gian khép kín nhằm diệt muỗi trưởng thành. Dùng
hương muỗi hoặc xông khói cho chuồng gia súc.
         Duy trì mặc quần áo dài ống, đi tất cho trẻ em nhằm hạn chế muỗi đốt, nhất là vào giờ cao điểm (6-10 giờ đêm).
Sử dụng các biện pháp xua đập muỗi cơ học vào lúc chập tối và sáng sớm cho nhà ở và chuồng gia súc.
         Sử dụng kem xua ngoài da hoặc các biện pháp chống muỗi đốt khác cho trẻ em và người chăm sóc, thu hoạch vải,
nhãn khi làm việc tại khu vườn cây ăn quả, nhất là vào mùa bệnh VNNB.

Những tác nhân sinh học nào có thể diệt bọ gậy/loăng quăng muỗi Culex?

         Những loài cá có vẩy ăn nổi, có năng xuất cao được nuôi tại ao, hồ, các thủy vực lớn.

         Những loài cá nhỏ, có sức chống chịu hạn cao được nuôi thả, duy trì tại các ruộng lúa nước hoặc thuỷ vực nhỏ
quanh khu dân cư, khu chuồng trại gia súc.
         Những loài cá hiện đang được khuyến khích nuôi thả để diệt bọ gậy muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết cũng có thể
diệt ấu trùng muỗi Culex, tuy với hiệu quả thấp hơn.

Có nên sử dụng hoá chất diệt muỗi trưởng thành ?

Có thể sử dụng hoá chất diệt côn trùng để phòng bệnh VNNB; tuy nhiên đây không phải là biện pháp được khuyến
khích
và phải có chỉ định chặt chẽ của Trung tâm YTDP tuyến tỉnh hoặc Viện VSDT/Pasteur khu vực.

Có thể sử dụng những kỹ thuật sau để diệt muỗi trưởng thành:

·         Phun tồn lưu hoá chất tại khu chuồng trại gia súc có mái che, tiến hành 1 đợt vào trước mùa dịch bệnh VNNB
(tháng 3-4), áp dụng cho vùng có lưu hành bệnh VNNB mức độ nặng. Thường sử dụng hoá chất nhóm pirethroid
       hoặc lân hữu cơ.
·         Phun không gian (phun ULV) hoá chất tại khu dân cư, tiến hành khi có dịch hoặc đe doạ có dịch bệnh VNNB,
cùng với mật độ muỗi culex tăng rất cao. Thường sử dụng hoá chất Deltamethrin (K-othrin) có tác dụng diệt muỗi
       nhanh, rất ít độc.
·         Không có chỉ định phun hoá chất ở khu ruộng lúa hay vườn cây ăn quả để diệt muỗi, trừ các hoá chất dùng với
mục đích trừ sâu hại nông nghiệp.
·         Có thể sử dụng hoá chất permethrin tẩm màn, mành che cửa nhằm diệt và xua muỗi trưởng thành cho người và gia
súc.
·         Sử dụng bình xịt gia đình, hương tẩm hoá chất để xua diệt muỗi vào thời gian mật độ muỗi cao hoặc có bệnh nhân
VNNB.

Tại sao cần di rời chuồng gia súc ra xa nhà ở và mức độ di rời?

Loài muỗi Culex rất ưa đốt hút máu gia súc nhất là lợn, ngoài ra có thể đốt hút máu trâu, bò, ngựa, dê, chó, mèo, thỏ….

Muỗi thường trú đậu ở đồng lúa, nhưng cũng có thể trú đậu ở bờ bụi quanh chuồng gia súc, hoặc ở ngay trong khu
chuồng gia súc nếu chúng ta không chú ý vệ sinh chuồng trại và thường xuyên xua diệt muỗi cho gia súc.
Trong quá trình di chuyển từ cánh đồng hoặc bờ bụi quanh nhà vào chuồng gia súc nếu gặp người muỗi có thể đốt và
truyền bệnh VNNB cho con người.
Khi quy hoạch khu gia đình nên duy trì khoảng cách giữa chuồng gia súc với nhà ở càng xa càng tốt, tối thiểu đạt
được khoảng cách 50 mét. Chuồng gia súc phải được xây kín đáo song thông thoáng, có mái che và nên có mành rèm
che cửa ra vào để chống muỗi; được làm vệ sinh thường xuyên.

Cải tạo khu dân cư theo hướng nào để có thể hạn chế tác hại của muỗi và vật chủ truyền bệnh VNNB ?

Nhà ở làm thông thoáng song kín đáo để có thể treo lưới, rèm, mành kiểm soát và hạn chế sự ra vào của muỗi trưởng
thành.

Xây dựng chuồng gia súc xa khu nhà ở, khu làm việc, khu nhà trẻ, trường học.

Xây dựng khu vườn cây ăn quả, nhất là vườn nhãn, vải hấp dẫn chim tu hú, liếu điếu xa nhà ở và khu làm việc, nhà
trẻ, trường học phổ thông; kết hợp sử dụng hoá chất nông nghiệp để hạn chế sự phát triển của muỗi.

Xây dựng công trình cấp thoát nước quanh khu gia đình để làm sao có thể kiểm soát, hạn chế muỗi sinh sản.

Hạn chế tối đa các bờ bụi cây hoang dại quanh khu nhà ở có thể làm nơi trú đậu của muỗi.

Còn đối với các nguồn nước là nơi sinh sản của muỗi truyền bệnh VNNB ?

         Đối với các thủy vực lớn (ao, hồ, đầm, khúc sông…): nên thường xuyên làm sạch rong rêu (vật thể bám và trú ẩn
của ấu trùng muỗi), nuôi thả các loại cá ăn nổi , duy trì có mật độ cao đặc biệt vào mùa xuân –hè và mùa hè.
         Đối với các nguồn nước nhỏ hơn: như vũng nước, rãnh thoát nước, bể nước lớn hoặc bể cảnh lớn trong nhà…nếu
không lấp bỏ được thì cần làm cạn, làm vệ sinh khơi thông dòng chảy thường xuyên hoặc thả cá có thể ăn bọ
      gậy các loài muỗi.
         Những vật chứa nước phế thải nhỏ quanh khu dân cư cũng có thể là nơi sinh sản của muỗi truyền bệnh VNNB, vì
vậy cũng cần được thu gom, lật úp, tiêu huỷ hàng ngày hoặc bằng các chiến dịch vệ sinh môi trường.
–  Đối với khu ruộng lúa nước, nhất là các chân ruộng lúa nước sát khu dân cư nên chú ý khâu điều tiết tưới tiêu, kết
hợp nuôi thả cá có khả năng chống chịu hạn cao để ăn bọ gậy.

Có thể phòng chống nhiễm vi rút VNNB cho gia súc được không ? Bằng cách nào ?

Về lý thuyết có thể phòng chống nhiễm vi rút VNNB cho gia súc bằng cách tiêm vác xin gây miễn dịch với VNNB cho
đàn lợn.
Tuy nhiên trên thực tế việc gây miễn dịch cho đàn lợn bằng vác xin là không khả thi vì sẽ rất tốn kém, ít hiệu quả do
lợn bị luân chuyển thay đàn thường xuyên, hiệu lực vác xin kém đối với lợn con dưới 6 tháng tuổi.
Chỉ có thể phòng chủ động cho đàn gia súc bằng các biện pháp khống chế véc tơ, chống muỗi đốt cho lợn và các
loài gia súc khác, bảo đảm vệ sinh chuồng trại và phun tồn lưu hoá chất diệt muỗi khu chuồng trại vào đầu mùa
dịch bệnh VNNB.

Vì sao chúng ta vẫn sử dụng vắc-xin viêm não Nhật Bản thế hệ cũ trong tiêm chủng mở rộng?

Sau hơn 20 năm sản xuất và sử dụng, vắc-xin viêm não Nhật Bản của Việt Nam sản xuất đã góp phần bảo vệ hàng chục triệu trẻ em với hiệu quả 97,95% và cũng đa được xuất khẩu sang Ấn Độ hơn 5 triệu liều.
Thế nhưng, vừa đây không ít ý kiến cho rằng vì sao Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo nên dần thay thế vắc-xin bất hoạt tinh khiết từ não chuột bằng vắc-xin bất hoạt tinh khiết từ tế bào Vero, nhưng chúng ta vẫn sử dụng vắc-xin thế hệ cũ trong tiêm chủng mở rộng? Để giúp bạn đọc có thông tin chuẩn xác về vấn đề này, tránh lo lắng không cần thiết, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của GS.TS. Huỳnh Phương Liên, một trong các chuyên gia đầu ngành về vắc-xin và sinh phẩm y tế.
Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) lưu hành tại nhiều nước trên thế giới, bao gồm khu vực Tây Thái Bình Dương, phía Đông Liên bang Nga, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á … đến năm 1998 bệnh đã xuất hiện tại châu Úc. Hiện nay trên thế giới có khoảng 3 tỷ người sống trong vùng có lưu hành dịch. Hàng năm có khoảng 50.000 ca mắc, trong đó khoảng 10.000 ca tử vong, số còn lại khoảng 50% để lại di chứng thần kinh.
Cũng như các bệnh do virut nói chung, bệnh viêm não Nhật Bản cho đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Việc tiêu diệt véctơ truyền bệnh là muỗi hoặc tiêm phòng cho lợn là ổ chứa virut còn nhiều hạn chế. Do vậy, việc gây miễn dịch chủ động bằng vắc-xin cho người là biện pháp có hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh.
Chuyện ít biết về vắc-xin viêm não Nhật Bản 1
Dây chuyền sản xuất vắc-xin viêm não Nhật Bản.
Thế giới đang sử dụng vắc-xin viêm não Nhật Bản loại nào?
Vắc-xin sống giảm độc lực sản xuất trên tế bào thận chuột đất vàng tiên phát tại Trung Quốc: Hiện vắc-xin sống giảm độc lực trên tế bào thận chuột hamster tiên phát (PHK) chủng virut SA14-14-2 đang sử dụng ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nepal và Srilanca. Đã xuất hiện các phản ứng phụ, như tại Ấn Độ 450 ca/9 triệu liều, trong đó 62 ca nhập viện và 22 ca tử vong; tại Nepal sau tiêm bị viêm não một số trường hợp nhưng chưa xác định viêm não do chủng vắc-xin SA14- 14-2 hay chủng hoang dại. Vắc-xin này rất rẻ, chỉ khoảng 17cen/liều. Đã có nhiều tranh cãi về vắc-xin sống giảm độc lực. Đây là loại virut có tính chất gây bệnh rất nguy hiểm, tỷ lệ tử vong 20 – 30% và 30 – 50% đã để lại di chứng thần kinh, gánh nặng đối với gia đình và xã hội. Câu hỏi đặt ra là: virut SA14-14-2 đột biến và gây ra viêm não thì sẽ như thế nào?
Vắc-xin bất hoạt sản xuất trên tế bào Vero: Một vắc-xin mới được Viện Biken, Kaketsuken của Nhật Bản và Intercell của Áo nghiên cứu sản xuất đó là vắc-xin VNNB bất hoạt sản xuất trên tế bào Vero nhằm thay thế vắc-xin từ não chuột. Vắc-xin của Intercell do hãng Novartis sản xuất đã được FDA (Hoa Kỳ) cấp phép lưu hành trên thị trường quốc tế năm 2009. Vắc-xin của Biken và Taketsuken đã có giấy phép sử dụng tại Nhật Bản năm 2009 và 2011. Đây là vắc-xin an toàn và đáp ứng miễn dịch cao đang được quan tâm để phòng bệnh VNNB rộng rãi trên thế giới. Tỷ lệ đáp ứng miễn dịch sau 2 mũi tiêm đạt 95%.
Vắc-xin bất hoạt tinh khiết sản xuất từ não chuột: Vắc-xin này được cấp giấy chứng nhận năm 1954 ở Nhật Bản và năm 1992 ở Mỹ, đây là loại vắc-xin bất hoạt, tinh khiết được dùng ở nhiều nước trên thế giới. Chủng sản xuất là chủng Nakayama hoặc chủng Beijing 1. Vắc-xin an toàn và đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm 2 mũi là 91% sau khi tiêm mũi 3 là 97%.
Loại vắc-xin VNNB Việt Nam đang sản xuất và sử dụng
Việt Nam nghiên cứu phát triển vắc-xin VNNB từ năm 1989 nhờ sự tài trợ của WHO để tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vắc-xin VNNB từ não chuột. Kết quả thử nghiệm lâm sàng đánh giá phản ứng phụ, hiệu lực của vắc-xin và khả năng bảo vệ của vắc-xin trên trẻ từ 2 – 4 tuổi: phản ứng phụ chủ yếu là sốt; các phản ứng khác như sưng vùng tiêm, đau cơ chỗ tiêm, đau đầu, ớn lạnh, đau bụng, phát ban, choáng… đều không xuất hiện trong thời gian theo dõi một tháng. 100% trẻ có đáp ứng kháng thể, kể cả trẻ có kháng thể dương và trẻ có kháng thể âm ở máu nền.
Một nghiên cứu do Nguyễn Thu Yến, Hoàng Thủy Nguyên, Trần Văn Tiến và cộng sự tiến hành trong hai vụ dịch tại 27 xã ở huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc năm 1993 và 1994 cho thấy: năm 1993 có 43 trẻ mắc, 2 trẻ tử vong và năm 1994 có 25 trẻ mắc, có 1 trẻ tử vong, trong đó không có trẻ nào đã tiêm vắc-xin VNNB. Với 10.615 trẻ đã tiêm vắc-xin VNNB (JEVAX) đã được bảo vệ qua hai mùa dịch.
Sau 20 năm sản xuất và sử dụng vắc-xin, 100% loạt vắc-xin xuất xưởng đạt chất lượng của WHO. Hiệu quả bảo vệ 97,95% (Nguyễn Thu Yến). Năm 1997, vắc-xin VNNB được đưa vào Chương trình TCMR. Tổng kết của Chương trì nh TCMR trong 10 năm, có 7,7 triệu trẻ em đã tiêm chủng 2 – 3 liều vắc-xin VNNB. Năm 1997 vớ i 1,9% số huyện, đến năm 2008 đã phủ vắc-xin tớ i 70% số huyện, đến nay 100% số huyện được tiêm vắc-xin VNNB.
Nhờ đó, số ca mắc VNNB đã giảm rõ rệt. Giám sát bệnh VNNB tại huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc số mắc/100.000 dân cho thấy: trước tiêm chủng, tỷ lệ mắc là 24/100.000 dân, từ năm 1993 – 1999 với tỷ lệ tiêm vắc-xin đạt 57,9% trẻ 1 – 5 tuổi, tỷ lệ mắc giảm 1,4/100.000 dân và từ năm 2000 – 2008 không có ca mắc VNNB được ghi nhận ở Gia Lương. Để bảo vệ thành quả này, trẻ em cần được tiêm chủng vắc-xin VNNB như Chương trình TCMR đã thực hiện.
Tại Việt Nam, vắc-xin VNNB bất hoạt sản xuất từ não chuột đạt chất lượng cao và rất an toàn, do vậy đã xuất khẩu hơn 5 triệu liều sang Ấn Độ, là loại vắc-xin duy nhất xuất khẩu được sản xuất tại Việt Nam. Hơn 20 năm sử dụng vắc-xin VNNB với số lượng hơn 40 triệu liều, nhưng chưa có trường hợp nào có tai biến cũng như tử vong sau khi tiêm vắc-xin.
Đã có một số tranh luận về vắc-xin sản xuất từ não chuột. Mặc dù vắc-xin rất tinh khiết, virut đã bất hoạt hoàn toàn, nhưng vắc-xin vẫn có rất ít phản ứng phụ không mong muốn ở nhóm nhạy cảm như người Mỹ và ngườ i châu Âu. Các đối tượ ng này rất nhạy cảm với protein não chuột tuy v i hàm lượng rất nhỏ, đã gây ra viêm não tủy rải rác cấp tính sau tiêm vắc-xin (acute disseminated encephalomyelitis).
Mặc dù những thành công trong phòng bệnh rất lớn, nhưng năm 2005, Chính phủ Nhật Bản tạm dừng sản xuất vắc-xin VNNB từ não chuột nhằm tránh các phản ứng viêm não tủy rải rác cấp tính (ADEM) cho dù tỷ lệ này rất thấp (1/50.000 – 1/100.000 ca). Hội đồng tư vấn toàn cầu về an toàn của vắc-xin cho rằng không có đủ minh chứng để kết luận hoặc thay đổi khuyến cáo tiêm chủng hiện nay đối với vắc-xin VNNB.
Do vậy, đến năm 2010 Nhật Bản lại được phép sản xuất và sử dụng cả hai loại vắc-xin: Vắc-xin bất hoạt sản xuất trên não chuột và vắc-xin bất hoạt sản xuất trên tế bào Vero. Hiện nay WHO khuyến cáo, dần từng bước thay thế vắc-xin VNNB trên não chuột bằng vắc-xin bất hoạt trên tế bào Vero. Tuy nhiên, chưa có quyết định chính thức nào về việc dừng sản xuất và sử dụng vắc-xin sản xuất từ não chuột cho người.
Việt Nam đã sản xuất và sử dụng vắc-xin VNNB hơn 20 năm qua đã làm giảm tỷ lệ mắc VNNB từ 75% năm 1990, đến nay chỉ còn 7 – 15% trong số ca mắc hội chứng não cấp đã được xác định kháng thể đặc hiệu IgM kháng virut VNNB.
Khi nào không nên cho trẻ tiêm phòng?
Cập nhật lúc 17h19″ , ngày 26/07/2013
(VnMedia) Tiêm vắc-xin là đưa vào cơ thể một kháng nguyên, kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch chủ động để phòng bệnh. Tuy nhiên, cũng có một trường hợp trẻ không nên tiêm phòng. Vậy đó là những trường hợp nào?>>>12 loại vắc xin cần tiêm phòng cho trẻKhông có loại vắc xin nào an toàn 100%Theo GS. TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện vệ sinh dịch tễ, không có loại vắc-xin nào tuyệt đối an toàn 100%. Tiêm vắc-xin là đưa vào cơ thể một kháng nguyên, kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch chủ động để dự phòng bệnh. Và tùy theo cơ địa từng người có thể xảy ra một số phản ứng sau tiêm vắc-xin. Phản ứng này có thể là nhẹ hay nặng tùy từng trường hợp và tùy loại vắc-xin cũng như thể trạng sức khỏe cơ thể của đứa trẻ.

 

Nếu việc tổ chức và thực hành tiêm chủng được thực hiện tốt, tất cả các trường hợp bị mắc bệnh và các trường hợp chống chỉ định hoặc hoãn tiêm được sàng lọc thật tốt, thì số phản ứng sau tiêm chủng sẽ rất thấp.

Những phản ứng thông thường sau khi tiêm vắc-xin thường là: sốt nhẹ, sưng, đau. Phản ứng nặng gây tử vong sau tiêm có thể do 4 nguyên nhân: Đó là phản ứng do vắc-xin, sai sót trong tiêm chủng, trùng hợp ngẫu nhiên với bệnh tật có sẵn của trẻ và phản ứng do tiêm.

 

Theo thống kê của các chuyên gia nhi khoa thì cứ 1 trong 4 trẻ tiêm vắc-xin sẽ có những biểu hiện phản ứng phụ với thuốc. Những biểu hiện thường gặp có thể là sốt, sưng tấy, sưng phồng, …trên da.

 Ảnh minh họa.

 

Khi nào không nên tiêm phòng cho trẻ?

 

Mặc dù việc tiêm phòng đôi khi có thể gây ra những phản ứng không mong muốn nhưng vẫn cần được khuyến khích, vì tác dụng quan trọng trong việc phòng ngừa các bệnh nhiễm khuẩn có thể gây nguy hiểm tới tính mạng của trẻ.

 

Tuy nhiên, theo các chuyên gia cũng có một trường hợp không nên tiêm phòng: đó là những trẻ đang ở trong tình trạng mà việc tiêm phòng có thể gây ra những phản ứng nguy hiểm. Những trường hợp này được coi là “chống chỉ định” của việc tiêm phòng.

 

– Không nên tiêm phòng cho trẻ khi trẻ đang sốt, trẻ đang mắc 1 bệnh nhiễm khuẩn cấp tính (viêm phổi, thương hàn, sởi …), trẻ mới khỏi các bệnh nói trên, còn đang trong thời kỳ hồi sức, trẻ đang bị viêm da mủ, hoặc bệnh chàm ngoài da (eczéma)…

 

– Không nên tiêm phòng đối với những trẻ đang mắc một bệnh mãn tính đang tiến triển như lao phổi tiến triển, tràn dịch màng phổi…, nhất là những trẻ đang mắc bệnh thận mãn tính…

 

Tùy từng loại có chỉ định khác nhau. Việc thực hiện quy trình tiêm chủng, bảo quản với các loại vắc-xin không khác nhau. Nhưng luôn cần chú ý mỗi loại vắc-xin luôn có một yêu cầu về sức khỏe với trẻ.
– Tiêm phòng viêm gan B: Trước khi được tiêm chủng, trẻ cần được bác sĩ thăm khám trước. Trẻ chỉ được tiêm vắc-xin viêm gan B trong vòng 24 giờ sau khi sinh khi đã bú tốt. Đối với những trẻ đẻ non, cân nặng thấp, trẻ bị đẻ khó, mẹ bị sốt trước, sau khi sinh, nước ối bẩn, con bị ngạt, thai già tháng, trẻ dị tật… cần được thăm khám cẩn thận để tránh các trường hợp trùng hợp ngẫu nhiên. Đối với những trẻ đang bị ốm, sốt, mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính thì cần được hoãn tiêm”.

– Tiêm phòng lao: nên tránh cho các trẻ sinh non còn quá yếu, quá thiếu cân; các trẻ đang bị bệnh cấp tính; các trẻ đang bị bệnh ngoài da lan rộng, đang tiến triển.
– Tiêm phòng Bạch hầu, uốn ván, ho gà: Trong trường hợp trẻ đang mắc bệnh nhiễm khuẩn, sốt cao, rối loạn thần kinh (co giật, viêm não và các bệnh về não)… không nên tiêm.

– Tiêm phòng sởi: nên tránh cho các trẻ đang bị ung thư máu, các trẻ đang bị suy dinh dưỡng rất trầm trọng, các trẻ đang phải chữa bệnh bằng các loại thuốc corticoid …
– Tiêm phòng thương hàn: nên tránh cho các trẻ đang bị bệnh ở thận, đang bị tiểu đường, hoặc đang trong 1 tình trạng có hiện tượng dị ứng trầm trọng …

 

– Tiêm phòng bại liệt: Tuyệt đối không được cho uống vắc-xin phòng bại liệt khi trẻ đang bị sốt, bị nôn, tiêu chảy, đang điều trị thuốc corticoid, mắc bệnh ác tính (u lympho, bạch cầu cấp…) hoặc bị nhiễm HIV.

 

– Tiêm phòng viêm não Nhật Bản: Không được tiêm khi trẻ đang sốt cao, mắc bệnh tim, thận, gan, đái tháo đường, đang mắc bệnh ung thư máu và nhất là trẻ đã từng bị dị ứng với vắc-xin phòng bệnh viêm não Nhật Bản.

 

Ngoài những vắc-xin phòng các bệnh trên còn có nhiều loại khác như: thủy đậu, quai bị, cúm, viêm màng não… Tuy nhiên, để tiêm vắc-xin phòng bệnh được an toàn và hiệu quả, tốt nhất trước khi tiêm nên tham khảo ý kiến bác sĩ và hỏi rõ về thời điểm tiêm vắc-xin.

 

Lưu ý khi tiêm phòng cho trẻ:

 

Trước khi tiêm

– Không cho trẻ ăn, bú quá no, tuy nhiên cũng không để trẻ đói để tránh tình trạng trẻ bị hạ đường huyết sau khi tiêm;
– Vệ sinh thân thể sạch sẽ để hạn chế nhiễm trùng.
– Khi tiêm phòng, cần cho trẻ mặc trang phục đơn giản để giúp bác sĩ dễ thao tác trong quá trình khám, không mặc quần áo quá bó chặt, ủ ấm quá nhiều;
– Chuẩn bị đủ hồ sơ sức khỏe của bé, đặc biệt là sổ tiêm chủng trước đó;
– Trước khi tiêm nên trao đổi với bác sĩ những biểu hiện sức khỏe của trẻ, có bị suy dinh dưỡng, có mắc bệnh cấp tính (như sốt, viêm phổi, viêm phế quản…), tiền sử bệnh tật, dị ứng với thuốc, hóa chất, thức ăn… để giảm đi những phản ứng bất lợi cho trẻ’;
– Mũi tiêm trước cùng loại đấy bé có bị dị ứng, mẩn đỏ, sốt không. Nếu có thì trao đổi với bác sĩ để chuyển vắcxin khác cũng có tác dụng tương tự.

 

Sau khi tiêm

 

– Ngồi lại theo dõi 15-30 phút, xem có dị ứng với thuốc không.

– Theo dõi khi trẻ về nhà: Theo dõi xem trẻ có sốt không, biểu hiện bên ngoài da, cử chỉ, quấy khóc, bú mẹ có bình thường không, đi ngoài thế nào. Đặc biệt là với những trẻ tiêm lần đầu khi ở 2 tháng tuổi, tiêm mũi đầu tiên và tiêm vắc-xin 5 trong 1.

– Cha mẹ nên chườm mát nơi tiêm (không chườm nóng), cho trẻ uống nhiều nước, bú mẹ nhiều hơn, mặc đồ thoáng.

– Trẻ sốt nhẹ sốt 37-38 độ C thì có thể dùng các biện pháp làm mát, hạ nhiệt, thuốc hạ sốt đặt hậu môn. Nếu sốt trên 38 độ thì dùng thuốc hạ sốt, tác dụng nhanh hơn.

– Phản ứng sau tiêm có nhiều loại: thường gặp, ít gặp, hiếm gặp và rất hiếm gặp. Đa phần các phản ứng sau tiêm đều xảy ra với các loại văc-xin khác nhau. Phản ứng tại chỗ tiêm có thể là sưng, đau, khó chịu, mệt mỏi, có thể sốt nhẹ, phản ứng gần như xảy ra ở các loại văc-xin, phản ứng thông thường.

– Nếu trẻ có biểu hiện bất thường sau tiêm, cha mẹ có thể liên hệ với nhân viên tư vấn hoặc cán bộ y tế xã để được tư vấn.

– Sau tiêm, trẻ có thể sốt nhưng nếu bình thường thì chỉ sốt một ngày, nhiều lắm là 2 ngày. Nếu trẻ sốt cao hơn 2 ngày thì cha mẹ nên thận trọng, có thể đưa trẻ đến bệnh viện để được cấp cứu và điều trị kịp thời.

– Một số biểu hiện nặng sau tiêm chủng: sốt cao trên 39 độ C, co giật, chân tay lạnh, tím tái, khó thở, quấy khóc, không đáp ứng thuốc hạ sốt thông thường, bỏ bú, sưng to, đỏ quanh chỗ tiêm… Khi đó, cha mẹ cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện.
Phạm Minh


Leave a comment

佐々木 さん から。英訳

関係者 各位

社長巡視のルートを廻って気付いた修正場所です。
本日のインターフェイス会議で説明します。
気付いた方は出力して持ってきて下さい。

ルート図を送った人全員に送っています。

エンジニアに説明が必要な方は英訳して伝えて下さい。

佐々木

 

To Whom it May concern,

 

持ってきてください: Give me (Cầm và đến đưa cho tôi)

 

 

 


Leave a comment

Songs & Poems in Tho Childhood

1. Chị Ong nâu và em bé

Nhạc và lời: Tân Huyền

Chị Ong nâu nâu nâu nâu
Chị bay đi đâu đi đâu?
Bác gà trống mới gáy, ông mặt trời mới dậy
Mà trên những cành hoa em đã thấy chị bay.

Bé ngoan của chị ơi, hôm nay trời nắng tươi
Chị bay đi tìm nhụy, làm mật ong nuôi đời.
Chị vâng theo bố mẹ, chăm làm không nên lười.

Trời xanh xanh xanh xanh xanh xanh.
Chị ong bay nhanh bay nhanh, hoa nở những cánh thắm
Trên mình mật trĩu nặng, chị Ong uốn mình qua nghiêng đôi cánh chào hoa.

Bé ngoan của chị ơi, hôm nay trời nắng tươi
Đường vui hoa phuợng đỏ, ngày ngày nhớ ôn bài.
Đừng quên cô giáo dặn, chăm học không nên lười.

Chị ong nâu nâu nâu nâu
Chị bay đi đâu đi đâu?
Bác gà trống mới gáy, ông mặt trời mới dậy
Mà trên những cành hoa em đã thấy chị bay.

Bé ngoan của chị ơi, hôm nay trời nắng tươi
Chị bay đi tìm nhụy, làm mật ong nuôi đời.
Chị vâng theo bố mẹ, chăm làm không nên lười.

P/S: Bài này bạn Thỏ lấy cảm hứng từ chị Sushi để hát. Ngày 1/6/2013 Thỏ gặp chị Sushi mà. Thỏ thấy chị Sushi cầm mic hát bài hát này hay lắm. Sau đó thì cô giáo dạy Thỏ. Thỏ hát ngăn ngắn thôi nhưng hay lắm, Mẹ Xuân thích cười rũ rượi. Lấy cảm hứng mà chuẩn hóa lại cho Thỏ bài hát này.

Nhạc sỹ Tân Huyền: http://vnca.cand.com.vn/vi-vn/truyenthong/2006/9/54023.cand

 

2. Cái lưỡi

Tác giả Lê Thị Mỹ Phương

Tôi là cái lưỡi
Giúp bạn hàng ngày
Nếm vị thức ăn
Nào chua nào ngọt

Những gì nóng quá
Bạn chớ vội ăn
Hãy chờ một tý
Không thì đau tôi.

Bài này nhân một tuần Thỏ nghỉ học ở lớp, mẹ giở thời khóa biểu và chương trình học của Thỏ ra để dạy Thỏ thay cô và thấy thụ vị với bài này ở Chủ đề: Các bộ phận cơ thể. Thỏ đọc bài thơ này rất là dễ thương.

http://www.mamnonphohue.edu.vn/goc-cua-be/121-cac-bai-th-v-ch-be-vi-bn-than.html

 

3. Cô Dạy

Tác giả: Phạm Hổ

Mẹ, mẹ ơi! cô dạy:

Phải giữ gìn đôi tay,

Bàn tay mà dây bẩn,

Sách, áo cũng bẩn ngay.

Mẹ, mẹ ơi! cô dạy:

Cãi nhau là không vui

Cái miệng nó xinh thế

Chỉ nói điều hay thôi.

“The Wheel on the bus”

“The finger family”

4. Taxi – Chế từ bài Nhạc rừng

Taxi taxi đi vòng quanh thế giới

Bao nhiêu, bao nhiêu?

5 đồng chú đưa tôi

Đắt thế, đắt thế, 2 đồng thôi bác nhé?

Oke, oke xin mời chú lên xe.

P/S: Vừa hát bài này Thỏ vừa đưa tay ra đằng trước mặt rất là điệu. Các cô giáo của Thỏ cho hay bài này xuất phát từ một trò chơi ở lớp của các cháu.

5/ Con cún con – Cát Tường

Papa ơi mở điện thoại cho Thỏ nghe bài con Cún con đi.

” Con cún con, cứ lon ton, khoe cái đuôi thật xinh nhé
Con cún con, cứ lon ton, vui sướng khi mừng em về
Khi tan lớp, em mau về ngay, không chần chờ sợ cún đợi lâu
Em trông thấy cún con mừng vui,xoay vòng vòng, vẫy đuôi tươi cười.”

Con

6/ Bầm ơi – Tố Hữu

……

Bầm ơi có rét không bầm

Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nhe.

7/ Tết ơi là Tết

Tết ơi Tết, Tết ơi là Tết

Sớm mai đã về trên cành đào

Chúc một năm thêm nhiều may mắn

Chúc một năm thêm nhiều an vui.

8/ Nắng sớm – Sáng tác của Hàn Ngọc Bích

Mở cửa ra cho nắng sớm vào phòng. Nắng cùng em hát và cùng chơi múa vòng. Có cô chim khuyên khen là vui quá.Vui cung nắng sớm ( ơ) má ai cũng hồng.

P/S: Thỏ hát  từ cuối cùng của bài hát “hồng” thành “ồng” Ngọng và điệu nghê cơ.

9/ Con chim non – Lý Trọng

Con chim non trên cành hoa
Hót véo von hót véo von
Em yêu chim em mến chim
Vì mỗi lần chim hót em vui

Chim ơi chim, chim đừng bay
Hót nữa đi hót nữa đi
Em yêu chim em mến chim
Vì mỗi lần chim hót em vui

10/ Một con vịt – Nhạc và lời Kim Duyên

Một con vịt xòe ra hai cái cánh,
Nó kêu rằng cáp cáp cáp cạp cạp cạp
Gặp hồ nước nó bì bà bì bõm
Lúc lên bờ vẫy cái cánh cho khô.

Một con vịt xòe ra hai cái cánh,
Nó kêu rằng cáp cáp cáp cạp cạp cạp
Gặp hồ nước nó bì bà bì bõm
Lúc lên bờ vẫy cái cánh cho khô!

11/ Cá vàng bơi – Hà Hải

Hai vây xinh xinh cá vàng bơi trong bể nước ngoi lên lặn xuống cá vàng múa tung tăng.
Hai vây xinh xinh sao mà bơi nhanh thế cá vàng thấy bọ gậy
Nên đuổi theo rất nhanh cá vàng bắt bọ gậy cho nước thêm sạch trong.
Hai vây xinh xinh cá vàng bơi trong bể nước ngoi lên lặn xuống cá vàng múa tung tăng.
Hai vây xinh xinh sao mà bơi nhanh thế cá vàng thấy bọ gậy
Nên đuổi theo rất nhanh cá vàng bắt bọ gậy cho nước thêm sạch trong
Hai vây xinh xinh cá vàng bơi trong bể nước ngoi lên lặn xuống cá vàng múa tung tăng.
Hai vây xinh xinh sao mà bơi nhanh thế cá vàng thấy bọ gậy
Nên đuổi theo rất nhanh cá vàng bắt bọ gậy cho nước thêm sạch trong.
Hai vây xinh xinh cá vàng bơi trong bể nước ngoi lên lặn xuống cá vàng múa tung tăng.
Hai vây xinh xinh sao mà bơi nhanh thế cá vàng thấy bọ gậy
Nên đuổi theo rất nhanh cá vàng bắt bọ gậy cho nước thêm sạch trong..

12/ Cái bống – Phạm Tuyên

Cái bống ơi là cái bống bang l

Khéo sảy khéo sàng cho mẹ bống nấu cơm
Mẹ bống á đi chợ là chợ đường trơn
Bống ra là ra gánh giúp để chạy cơn là cơn mưa ròng để chạy cơn là cơn mưa ròng.

13/ Bắc Kim Thang – Dân ca

Bắc kim thang cà lang bí rợ
Cột qua kèo là kèo qua cột
Chú bán dầu qua cầu mà té
Chú bán ếch ở lại làm chi con le le đánh trống thổi kèn
Con bìm bịp thổi tò tí te tò te

14/ Tanabata song

笹の葉さらさら

軒端に揺れる

お星様きらきら

金銀砂子

五色の短冊

私が書いた

お星様きらきら

空から見てる

Translation:

The bamboo leaves rustle,
shaking away in the eaves.
The stars twinkle
on the gold and silver grains of sand.

The five-colour paper strips
I have already written.
The stars twinkle,
they watch us from heaven.

P/S: In present-day Japan, people generally celebrate this day by writing wishes, sometimes in the form of poetry, on tanzaku (短冊 tanzaku?), small pieces of paper, and hanging them on bamboo, sometimes with other decorations (see also Wish Tree). The bamboo and decorations are often set afloat on a river or burned after the festival, around midnight or on the next day.[9] This resembles the custom of floating paper ships and candles on rivers during Obon. Many areas in Japan have their own Tanabata customs, which are mostly related to local Obon traditions. There is also a traditional Tanabata song:[10]

15/ Five Little Monkeys!

Five little monkeys jumping on the bed
One fell off and bumped his head
So Momma called the doctor and the doctor said
No more monkeys jumping on the bed!

Four little monkeys jumping on the bed
One fell off and bumped his head
So Momma called the doctor and the doctor said
No more monkeys jumping on the bed!

Three little monkeys jumping on the bed
One fell off and bumped his head
So Momma called the doctor and the doctor said
No more monkeys jumping on the bed!

Two little monkeys jumping on the bed
One fell off and bumped his head
So Momma called the doctor and the doctor said
No more monkeys jumping on the bed!

One little monkey jumping on the bed
He fell off and bumped his head
So Momma called the doctor and the doctor said
No more monkeys jumping on the bed!

No little monkeys jumping on the bed
None fell off and bumped his head
So Momma called the doctor and the doctor said
Put those monkeys back in bed!

16. Bống bống bang bang

Bống bống bang bang

Bống bống bang bang

Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta

Chớ ăn cơm hẩm, cháo hoa nhà người.

17. Chú cuội

Chú cuội ngồi gốc cây đa

Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời

Cha còn cắt cỏ trên đồi

Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên

18/ Mẹ yêu không nào – Tác giả: Lê Xuân Thọ

Con cò bé bé
Nó đậu cành tre
Đi không hỏi mẹ biết đi đường nào
Khi đi em hỏi
Khi về em chào
Miệng em chúm chím mẹ có yêu không nào?

19/ Cả nhà thương nhau – Tác giả: Phan Văn Minh

Ba thương con vì con giống mẹ
Mẹ thương con vì con giống ba
Cả nhà ta
Cùng thương yêu nhau
Xa là nhớ
Gần nhau là cười!

Ba đi xa thì con với mẹ

Mẹ đi xa thì con với ba

Cả nhà ta cùng yêu thương nhau

Xa là nhớ

Gần nhau là cười!

20/ Bàn tay mẹ – Bùi Đình Thảo

Bàn tay mẹ bế chúng con
Bàn tay mẹ chăm chúng con
Cơm con ăn tay mẹ nấu
Nước con uống tay mẹ đun
Trời nóng bức gió từ tay mẹ con ngủ ngon
Trời giá rét cũng từ tay mẹ ủ ấm con
Bàn tay mẹ vì chúng con
Từ tay mẹ con lớn khôn

21/ Em tập lái ô tô – Nguyễn Văn Tý

Bí bo, bí bo em tập lái ô tô.
Bí bo, bí bo sau này em lớn.
Em lái xe đón cô.

22/ Chú ếch con – Phan Nhân

Kìa chú là chú ếch con có hai là hai mắt tròn
Chú ngồi học bài một mình bên hố bom kề vườn xoan
Bao nhiêu cô cá trê non cùng bao nhiêu chú cá rô ron
Tung tăng chiếc vây son nhịp theo tiếng ếch vang giòn !

Kìa chú là ếch con bé ngoan là ngoan nhất nhà
Chú học thuộc bài xong rồi chú hát thi cùng họa mi
Bao nhiêu chú chim ri cùng bao cô cá rô phi
Nghe tiếng hát mê ly cùng vui thích chí cười khì!

23/ Hai con thằn lằn con – Mầm non

Hai con thằn lằn con,
đùa nhau cắn nhau đứt đuôi
Cha thằn lằn buồn thiu,
gọi chúng đến mới mắng cho
Hai con thằn lằn con,
đuôi thì to nhưng đã đứt rồi
Ôi đớn đau quá trời,
Chúng khóc la tơi bời

24/ Đi câu cá

Chiều nay em đi câu cá và mang rá theo bắt cua
Làm sao cho được kha khá về cho má nấu canh chua.
Ô kìa con cua, ô kìa con cua
Suỵt (ấy) chớ la
Đừng la lớn nó chui xuống hang
Đừng la lớn nó chui xuống hang.

P/S: Bài này độc quyền cô Hiền Tròn hát cho Thỏ nghe hồi bé nhé!

25/ Chặt cây dừa

Chặt cây dừa là chừa cây cau.
Cây lòng thòng là cây bí đao.
Cây thấp thì nấp cây cao.
Cây lách thì dưới cây lao.
Dập dềnh rồi ra tay nào.
Tay này trảy dao.
Chặt cây dừa là chừa cây cau.
Cây lòng thòng là cây bí đao.
Cây thấp thì nấp cây cao.
Cây lách thì dưới cây lao.
Dập dềnh rồi ra tay nào.
Tay này trảy dao.
Sắc củ cải đãi cho nàng.
Chàng xách chàng chê.
Tao với mày tha ma với quỷ, hú hồn chạy đi.

26/ Rửa mặt như mèo –

Lêu lêu lêu rửa mặt như mèo,
Xấu xấu lắm chẳng được mẹ yêu.
Khăn mặt đâu mà ngồi liếm láp.
Đau mắt rồi lại khóc meo meo.

27/ Cô và mẹ – Phạm Tuyên

Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo
Khi đến trường cô giáo như mẹ hiền

Cô và mẹ là hai cô giáo
Mẹ và cô ấy hai mẹ hiền

Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo
Khi đến trường cô giáo như mẹ hiền
Cô và mẹ là hai cô giáo
Mẹ và cô ấy hai mẹ hiền.

28/ Trường của cháu đây là trường mầm non – Phạm Tuyên

Ai hỏi cháu cháu học trường nào đấy
Bé nào ngoan và múa hát thật hay
Cô là mẹ và các cháu là con
Truờng của cháu đây là trường mầm non.

29/ Cháu yêu bà – Xuân Giao

Bà ơi bà cháu yêu bà lắm tóc bà trắng màu trắng như mây
Cháu yêu bà cháu nắm bàn tay khi cháu vâng lời cháu biết bà vui..

Bà ơi bà cháu yêu bà lắm tóc bà trắng màu trắng như mây
Cháu yêu bà cháu nắm bàn tay khi cháu vâng lời cháu biết bà vui.

Bà ơi bà cháu yêu bà lắm tóc bà trắng màu trắng như mây
Cháu yêu bà cháu nắm bàn tay khi cháu vâng lời cháu biết bà vui..

Bà ơi bà cháu yêu bà lắm tóc bà trắng màu trắng như mây
Cháu yêu bà cháu nắm bàn tay khi cháu vâng lời cháu biết bà vui..

P/S: Bà Trình ơi cháu yêu bà Trình lắm!

30/ Gà gáy le te – Dân ca Cống Khao

Con gà gáy le té le te sáng rồi ai ơi.
Gà gáy té le té sáng rồi ai ơi.
Nắng sớm lên rồi, dậy đi nương hỡi ai ời ai ơi. Rừng và nương xanh đã sang rồi ai ơi.

Con gà gáy le té le te sáng rồi ai ơi.
Gà gáy té le té sáng rồi ai ơi. Sáng sớm lên rồi, dậy đi nương hỡi ai này ai ơi. Rừng và nương xanh đã sang rồi ai ơi.

31/ Năm ngón tay ngoan – Trần Văn Thụ

Xòe bàn tay đếm ngón tay
Một anh béo trông thật đến hay
Cả ngày vui ai có việc
Là anh giúp luôn không ngồi yên
Kề bên anh đứng thứ hai
Một anh tính thật thà dễ thương
Hỏi rằng em cao nhất nhà
Thì anh lắc luôn ngay cái đầu

Xòe bàn tay đếm ngón tay
Một anh đứng trông thật đến cao
Hỏi rằng sao cao thế này
Thì anh nói anh chăm thể thao
Cạnh bên anh đứng thứ tư
Hỏi anh đã biết đọc chữ chưa
Thì anh thưa anh biết rồi
Và anh đứng nghiêm giơ tay chào

Xòe bàn tay đếm ngón tay
Một anh bé trông thật rất xinh
Hỏi rằng ai, em út nhà
Thì anh hát luôn theo điệu ca
Rằng là em bé rất ngoan
Thường hay khám tay sạch các anh
Làm vệ sinh, hay quét nhà
Và múa hát cho vui ông bà.

32/ Bé quét nhà – Hà Đức Hậu

Một sợi rơm vàng là hai sợi vàng rơm
Bà bện chổi to, bà làm chổi nhỏ
Chổi to, chổi to bà quét sân to
Ấy còn chổi nhỏ bà để cho bé chăm lo quét nhà!

33/ Quả

Quả gì mà chua chua thế?

Xin thưa rằng quả khế.
ăn vào thì chắc là chua?

vâng vâng, chua thì để nấu canh chua.
Quả gì mà da cưng cứng?

Xin thưa rằng quả trứng.
ăn vào thì nó làm sao? không sao, ăn vào người sẽ thêm cao.

Quả gì mặc bao nhiêu áo?
Xin thưa rằng quả pháo.
ăn vào thì chắc là dai.
Không dai. Nhưng mà nổ điếc hai tai.
Quả gì mà lăn lông lốc?
Xin thưa rằng quả bóng.

sao mà quả bóng lại lăn?

do chân, bao người cùng đá trên sân.
Quả gì mà gai chi chít?

Xin thưa rằng quả mít.
ăn vào thì chắc là đau? không đau, thơm lừng tận mấy hôm sau.
Quả gì mà to to nhất? xin thưa rằng quả đất.
to bằng quả mít mật không? to hơn, to bằng nghìn núi Thái Sơn.


Leave a comment

Poisoning flower

Take her far away from them.

NHỮNG CÂY HOA CÓ ĐỘC NGAY TRONG NHÀ MÌNH

Mõ Làng Thứ ba, ngày 05 tháng mười một năm 2013

 

Sưu tầm
Ở Việt Nam, việc trồng cây cảnh trong nhà thường có ý nghĩa về phong thủy, quan niệm phát tài phát lộc. Mỗi gia chủ có cách nghĩ riêng nên việc chọn cây cảnh nào, có hình dáng, màu sắc, kích cỡ khác nhau đều bị ảnh hưởng bởi phong thủy mà chẳng mấy để ý cây đó có chất độc hại hay không.
Những ca phát hiện ngộ độc cây cảnh có độc trên thế giới thường xảy ra ở trẻ nhỏ. Tại TP. HCM đã có một số trẻ nhỏ bị ngộ độc nặng do ăn quả mã tiền.
Tiến sĩ sinh học Bùi Văn Lệ (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM) cho biết: “Có rất nhiều loại cây cảnh có khả năng gây ngộ độc cao. Ví dụ cây vạn niên thanh có tên khoa học là Dieffenbachia cultivar. Cây có thân mềm, lá xanh đốm trắng, thuộc họ Ráy. Vì cây cũng đẹp nên hay được trồng làm cảnh”.
Tuy nhiên, theo TS Lệ, độc chất của cây vạn niên thanh chính là calcium oxalate. Độc chất calcium oxalate phân bố trong các bộ phận của cây và chủ yếu trên lá. “Khi nhai lá, ăn lá sẽ gây ra bỏng rát niêm mạc miệng, da. Nếu tiếp xúc với nhựa từ lá có thể gây dị ứng da, bỏng miệng, cứng miệng, nghẹn họng và khó thở. Nếu ăn với số lượng nhiều có thể gây chết người”, TS Lệ nhấn mạnh.
Vì chất độc trong cây vạn niên thanh không phải dạng khí hay bay hơi mà chỉ khi nuốt lá, ăn lá, nhai lá mới có các hiện tượng trên.“Các triệu chứng trên đa số là nhẹ nhưng cần đưa ngay đến cơ sở y tế để được chỉ định hoặc cấp cứu kịp thời”.
Cho nên, nếu trồng trong nhà thì chỉ nên đặt ở khu vực hành lang, tránh xa tầm với của trẻ em. Hoặc trước khi trồng có thể cân nhắc kỹ càng.
Một số loài cây có độc tố khác cần lưu ý khi trồng trong nhà:
Xương rồng bát tiên: Đây là cây có bán nhiều nơi, chất độc nằm trong nhựa của cây.
Hoa cẩm tú cầu: Lá và củ cây có chất độc, khi nhai hoặc ăn vào có thể gây tiêu chảy, ói mửa, thở gấp.
Hoa đỗ quyên: Loại hoa này có giống chứa độc là Rhododendron occidental. Chất độc chứa trong tất cả các bộ phận, gây buồn nôn, chảy nước dãi, ói mửa, uể oải, chóng mặt, khó thở, mất cân bằng.
Cây môn kiểng: Loại cây này có tên khoa học là Caladium Hortulanum. Chất độc có thể gây bỏng rát vùng họng, dạ dày, ruột.
Hoa rum: Lá và củ chứa chất độc đường ruột Calcium oxalate. Khi ăn phải loại thực vật này có thể bị ói mửa, bỏng rát bề mặt niêm mạc.
Cây ngoắt nghẻo: Đây là cây có độc ở củ với hạt. Nếu khi ăn vào có thể gây tê lưỡi, mất cảm giác cơ thể, gây hôn mê dẫn đến tử vong.
Hoa thủy tiên: Tên khoa học là Narcissus spp, trong củ của cây có chất Alkaloids gây chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, run rẩy toàn thân, hôn mê, có thể dẫn đến tử vong khi ăn phải.
Cây trúc đào: Có tên khoa học là Nerium oleander. Đây là cây cao khoảng 2 – 6 mét, có hoa nhỏ mọc thành, hoa đẹp có nhiều màu. Chất độc của cây tập trung trong tất cả các bộ phận. Khi ăn phải có thể gây nôn, ói mửa, tiêu chảy, rối loạn nhịp tim, và thậm chí gây tử vong.
Hoa thiên điểu: Chất độc nằm trong hoa và hạt, có thể gây buồn nôn, tiêu chảy, chóng mặt.
Độ độc của cây còn bị ảnh hưởng bởi tuổi tác, cân nặng và sự nhạy cảm của từng người.
Trẻ em dưới 6 tuổi là nhóm nguy cơ cao. Trẻ em rất tò mò với thiên nhiên, không hề sợ hãi khi khám phá cây cỏ bằng cách nhìn ngắm, sờ, ngửi hoặc cho vào miệng nếm thử. Các quả có màu sắc sặc sỡ thường được chúng chú ý.


Leave a comment

Lễ hội Fukishima tại Hà Nội

http://vjl.com.vn/article/62/le-hoi-fukushima-tai-ha-noi-%E2%80%93-fukushima-festival-in-hanoi.html

Nhân dịp kỉ niệm 40 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam- Nhật Bản và 23 năm quan hệ giao lưu Hội hữu nghị Việt Nam- Fukushima. “Lễ hội Fukushima tại Hà Nội – Tái thiết Fukushima” sẽ được tổ chức tại Hà Nội trong 2 ngày – Thứ Bảy 2/11/2013 và Chủ nhật 3/11/2013-  thể hiện sự biết ơn của Tỉnh Fukushima nói riêng và của Nhật bản nói chung đối với nhân dân Việt Nam đã nhiệt tình ủng hộ giúp đỡ Nhật Bản trong thảm họa thiên tai miền Đông bắc vào năm 2011.
Qua lễ hội lần này, Fukushima muốn giới thiệu những hình ảnh mới nhất về đất nước Nhật Bản nói chung và tỉnh Fukushima nói riêng cho mọi người dân Việt Nam hiểu thêm về văn hóa ẩm thực, thời trang Kimono, Trà đạo, Hoa đạo… để thắt chặt hơn nữa tình cảm hữu nghị của hai đất nước Việt Nam – Nhật Bản. Sẽ cho mọi người thấy những thành tựu ban đầu cho công cuộc tái thiết thành phố Fukushima. Về sự an toàn trong cuộc sống tại đây và về những em bé khỏe mạnh là thế hệ tương lai của tỉnh Fukushima.
Thi gian tổ chức:    Từ 10h đến 20h30   Thứ 7 ngày 2 tháng 11 năm 2013
Từ 10h đến 20h30   Chủ Nhật ngày 3 tháng 11 năm 2013
Địa điểm:                      Bảo tàng Phụ Nữ – 36 Lý Thường Kiệt- Hà Nội
 Nội dung chương trình:
Ngày thứ Bảy, mồng 2 tháng 11 năm 2013

  • 10h00   Giới thiệu Trà đạo Nhật Bản
  • 14h00    Biểu diễn thời trang: trang phục truyền thống Nhật Bản (lần 1)
  • 15h00    Nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản
  • 16h00    Biểu diễn thời trang: trang phục truyền thống Nhật Bản (lần 2)

Ngày Chủ nhật, mồng 3 tháng 11 năm 2013

  • 10h00    Giới thiệu Trà đạo Nhật Bản
  • 11h00     Biểu diễn thời trang: trang phục truyền thống Nhật Bản (lần 3)
  • 14h00     Biểu diễn thời trang: trang phục truyền thống Nhật Bản (lần 4)
  • 15h00     Nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản

 Và còn rất nhiều gian hàng giới thiệu về văn hóa Nhật Bản

1.Giới thiệu về trường phái Trà đạo Urasenke: ( Trải nghiệm nghi lễ pha trà)
2.Gian ẩm thực Nhật Bản : Rượu Nhật ( Thử rượu miễn phí)
3.Triển lãm cây cảnh Bonsai
4.Giới thiệu Trường Đại học Quốc tế phía Đông Nhật Bản
5.Chiếu phim Nhật Bản (Công ty truyền hình Blatto)
6.Góc triển lãm những hình ảnh của hội Giao lưu Fukushima – Viêt Nam7.Góc triển lãm tái thiết thành phố Minamisoma, hình ảnh giao lưu với Trường ĐH Phương Đông – 12 năm quan hệ
8. Các gian hàng: Doanh nghiệp, Ngân hàng, Báo Chí, Trường học, Đoàn thể, Các thành phố thuộc Tỉnh Fukushima.

HÃY ĐẾN VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CÙNG THAM GIA LỄ HỘI FUKUSHIMA. ĐỂ CÙNG CẢM NHẬN VÀ TẬN HƯỞNG KHÔNG KHÍ THÀNH PHỐ FUKUSHIMA ĐANG PHÁT TRIỂN TRỞ LẠI.
( VÀO CỬA VÀ THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH HOÀN TOÀN MIỄN PHÍ) 

 Mọi quan tâm về chương trình vui lòng gọi cho chúng tôi: 0435772008 để được giải đáp.

 

Tên công ty Công ty Cổ phần Liên kết Việt Nhật ( VIJA Link)
Địa Chỉ 5F, 106 Phố Huế, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện Thoại (+84)4-3944 9323 hoac (+84)4-3577 2008
Fax (+84)4-3577 2007
Ngày Thành Lập Ngày 28 tháng 6 năm 2010
Vốn Pháp Định 1,000,000,000 VNĐ
Ngân Hàng Standard Chartered Bank Vietnam (Hanoi Branch)
Mã Số Thuế 0104770412
Người Đại Diện Trần Thị Khanh